Soạn văn: Muốn làm thằng Cuội
Để giúp các em học sinh học tốt môn Ngữ Văn lớp 8, hocthattot.vn đã sưu tầm, biên soạn các bài soạn văn phong phú từ ngắn gọn, đầy đủ đến chi tiết.
Trong bài học này, chúng ta cùng nhau tìm hiểu bài học về “Muốn làm thằng Cuội”.
Nội dung chính
1. SOẠN VĂN MUỐN LÀM THẰNG CUỘI
Bố cục
+ Hai câu đề: cuộc sống trần gian nhàm chán, buồn tẻ
+ Hai câu thực: Cõi mộng tưởng của tác giả
+ Hai câu luận: Ước mơ thoát li khỏi thực tại
+ Hai câu kết: Viễn cảnh cuộc sống hạnh phúc
Đọc hiểu văn bản
Câu 1: Hai câu thơ đầu là tiếng than và lời tâm sự của Tản Đà với chị Hằng. Theo em, vì sao Tản Đà lại có tâm trạng chán trần thế?
Trả lời:
Tản Đà có tâm trạng chán trần thế vì:
– Nỗi buồn đêm thu, ngắm trăng. Đây là nỗi buồn thường tình của thi sĩ.
– Buồn chán trước cảnh nước mất, nhà tan, chế độ suy đồi
– Nỗi buồn trước cảnh sinh linh đồ thán, thiên hạ lầm than
– Nỗi buồn vì bế tắc, không thể thay đổi thực tại, không thể giải phóng “cái tôi” của mình.
Câu 2: Nhiều người đã nhận xét một cách xác đáng rằng, Tản Đà là một hồn thơ “ngông”. Em hiểu “ngôn” nghĩa là gì?
Trả lời:
– “Ngông”: Làm những việc khác với người thường, với lẽ thường, thái độ sống bất cần trước cuộc đời. Trong văn chương “ngông” thể hiện bản lĩnh của người tài, có “cái tôi” lớn, có mối bất hòa sâu sắc với xã hội…
– Cái “ngông” của Tản Đà:
+ cách xưng hô với chị Hằng, đó là cách xưng hô với “người cõi tiên” bằng lời lẽ thân mật, thậm chí suồng sã : chị – em.
+ Hành động: Hỏi chị hằng, thể hiện ước muốn lên chơi Cung quế, muốn bầu bạn cùng chị Hằng
+ Giọng điệu suồng sã như người bạn lâu năm
→ Tản Đà chán cuộc sống cõi trần, muốn thoát tục lên trăng để tránh ưu phiền nhân gian, nơi đầy xấu xa, bất mãn. Tản Đà luôn cô đơn, ông khắc khoải muốn tìm tri kỉ để bầu bạn, thấu hiểu nỗi lòng. Cái “ngông” của kẻ có tài nhưng bất mãn, bất lực trước xã hội.
Câu 3: Phân tích hình ảnh cuối bài thơ: Tựa nhau trông xuống thế gian cười. Em hiểu cái cười ở đây có ý nghĩa gì?
Trả lời:
Cái cười có ý nghĩa:
Cái cười ở đây thể hiện niềm vui toại ước nguyện thoát tục, thoát khỏi trần gian đầy buồn chán. Cái cười cũng thể hiện sự mỉa mai trần thế bé nhỏ so với Tản Đà đang ngự cung trăng.
Câu 4: Theo em những yếu tố nghệ thuật nào đã tạo nên sức hấp dẫn của bài thơ?
Trả lời:
– Yếu tố tạo nên sức hấp dẫn của bài thơ nằm ở:
+ Sự tưởng tượng mới lạ, câu chuyện độc đáo, khác biệt.
+ Cảm xúc dồi dào, ngòi bút phóng khoáng.
+ Thái độ sống “ngông” của tác giả
+ “Cái tôi” được thể hiện một cách mãnh liệt, trực diện, khác với ‘cái tôi” ẩn mình của văn học trung đại.
Luyện tập
Câu 1: Nhận xét phép đối trong hai câu 3-4 và 5-6 của bài thơ.
Trả lời:
Phép đối trong câu 3 và 4, câu 5 và 6;
– Câu 3 và câu 4:
+ Đối về hình ảnh: cung quế/cành đa, ngồi/lên chơi.
+ Đối về ý: Lời hỏi (thăm dò) và đề nghị
– Câu 5 và câu 6:
+ Đối ý: bầu bạn/gió, mây; tủi/vui
Câu 2: So sánh ngôn ngữ và giọng điệu bài thơ này với bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan.
Trả lời:
– Bài Qua Đèo Ngang của bà Huyện Thanh Quan:
+ Ngôn ngữ: sử dụng nhiều từ láy, từ tượng hình và lối chơi chữ từ đồng âm
+ Giọng điệu: trầm buồn, trang nhã tạo nét buồn bâng khuâng
– Bài thơ Muốn làm thằng Cuội của Tản Đà
+ Ngôn ngữ: bình dị, không gọt dũa.
+ Giọng điệu: nhẹ nhàng, trữ tình, hóm hỉnh, suồng sã
2. SOẠN VĂN MUỐN LÀM THẰNG CUỘI CHI TIẾT
3. SOẠN VĂN MUỐN LÀM THẰNG CUỘI HAY NHẤT
Soạn văn: Muốn làm thằng Cuội (Chi tiết)
Đề bài học sinh xem bên trên.
Lời giải
ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
Bố cục:
+ Hai câu đề: cuộc sống trần gian nhàm chán, buồn tẻ.
+ Hai câu thực: Cõi mộng tưởng của tác giả.
+ Hai câu luận: Ước mơ thoát li khỏi thực tại.
+ Hai câu kết: Viễn cảnh cuộc sống hạnh phúc.
Trả lời câu 1 (trang 156 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):
Hai câu thơ đầu là tiếng than và lời tâm sự của Tản Đà với chị Hằng. Theo em, vì sao Tản Đà lại có tâm trạng chán trần thế?
Lời giải chi tiết:
Mở đầu bài thơ, hai câu đề, là tâm trạng của tác giả trước cảnh đời thu:
Đêm buồn lắm chị Hằng ơi!
Trần thế em nay chán nửa rồi.
Gặp cảnh đêm thu đã buồn lại buồn và chán nữa. Nỗi buồn chán ấy như thể được nhân lên, chất chứa trong lòng, khiến nhà thơ phái thốt thành lời. Lời thở than cũng là một tâm trạng, một nỗi buồn da diết khôn nguôi. Ấy là nỗi buồn thời thế hay thân thế khiến nhà thơ chán cả cõi đời.
+ Sống trong xã hội thực dân phong kiến tàn tác, bất nhân
+ Mang nỗi nhục mất nước, nỗi buồn vì bản thân rơi vào cảnh long đong, lận đạn, bế tắc
+ Tản Đà vốn phóng túng, lãng mạn không bằng lòng với cuộc sống tù túng đó.
+ Bản thân ông không đủ sức thay đổi thực tại bi kịch.
⟹ Lời giãi bày của người lạc lõng trước thời cuộc, luôn bất hòa với thực tại nhàm chán: từ nỗi đau trước sự tồn vong của đất nước, của dân tộc đến nỗi đau kiếp người trước cảnh gió gió mưa mưa rồi nỗi cô đơn thất vọng, bế tắc của riêng mình: “Hai mươi năm lẻ hoài cơm áo. Mà đến bây giờ có thế thôi”. Chính vì thế, thi sĩ Tản Đà muốn thoát li cái xã hội ngột ngạt tầm thường thời bấy giờ bằng mộng tưởng. Ông “muốn làm thằng Cuội” bỏ quách nhân gian để lên cung quế sống bên chị Hằng.
Trả lời câu 2 (trang 156 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):
Nhiều người đã nhận xét một cách xác đáng rằng, Tản Đà là một hồn thơ “ngông”. Em hiểu “ngôn” nghĩa là gì?
Lời giải chi tiết:
– Ngông là làm những việc trái với lẽ thường, khác với mọi người xung quanh mình. Trong văn học, ngông là biếu hiện cùa ngòi bút có cá tính mạnh mẽ, bất hòa sâu sắc với xã hội đương thời, không chịu gò ép mình trong khuôn khổ chật hẹp của lễ nghi lề thói thông thường, chẳng hạn Nguyễn Công Trứ lấy mo cau che đít bò đủng đỉnh cưỡi lên chùa trong Bài ca ngất ngưởng hay Trần Tế Xương trong bài Bần nhi lạc đã ngợi ca lối sống của chú Mán: “Không đội nói chịu màu da dãi nắng. Chẳng nhuộm răng, dễ trắng dễ cười đời”.
– Trong bài thơ này, cái ngông đó bộc lộ trong:
+ Ý muốn được làm thằng Cuội, bỏ quách trần gian lên cung trăng cùng sống bên chị Hằng, bầu bạn vui cùng gió cùng mây trông xuống cõi người mà cười cợt.
+ Tuy nhà thơ gọi Hằng Nga là chị, tự xưng mình là em nhưng giọng điệu bài thơ không khỏi ít nhiều có tình ý lơi lả, ý vị cợt đùa. Trong cách xưng hô trò chuyện cùa ông với người đọc ít nhiều cũng hàm chứa thái độ chơi ngông. Đặc biệt là tư thế ở cuối bài thơ: Tựa nhau trông xuống thể gian cười thì đúng là một thái độ ngông nghênh khác lạ so với đương thời.
⟹ Tản Đà một hồn thơ “ngông” giữa cái tỉnh và cái điên, giữa cõi thực và cõi mơ thể hiện cá tính, thái độ sống của ông trước cuộc đời đầy bất công, ô trọc. Phía sau cái “ngông” của ông là nhân cách hơn người.
Trả lời câu 3 (trang 156 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):
Phân tích hình ảnh cuối bài thơ: Tựa nhau trông xuống thế gian cười. Em hiểu cái cười ở đây có ý nghĩa gì?
Lời giải chi tiết:
– Sau cùng, hai câu kết càng bộc lộ tâm trạng của nhà thơ:
Rồi cứ mồi năm rằm tháng tám
Tựa nhau trông xuống thế gian cười.
Hình ảnh “tựa nhau” giữa nhà thơ cùng chị Hằng mới lãng mạn làm sao. Rằm tháng Tám, đêm Trung thu chính là lúc trăng tròn và sáng nhất trong năm. Khi đó, người người trong cõi trần gian này đều ngẩng đầu lên ngắm trăng. Cùng chính khi đó, nhà thơ ngồi trên cung trăng tựa vai chị Hằng “trông xuống thế gian, cười”.
– Cái “cười” ở đây của Tản Đà được mang nhiều ý nghĩa
+ Cười thể hiện niềm vui được thỏa mãn mơ ước lên cõi mộng tưởng
+ Cười vì nhà thơ thấy thế gian ông từ bỏ vẫn là trần tục tầm thường, buồn chán
+ Cười thể hiện sự mỉa mai, giễu cợt khi Tản Đà ở vị trí cao hơn cõi trần ông đang sống.
Trả lời câu 4 (trang 156 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):
Theo em những yếu tố nghệ thuật nào đã tạo nên sức hấp dẫn của bài thơ?
Lời giải chi tiết:
– Trí tưởng tượng sáng tạo, bay bổng của nhà thơ
– Cảm xúc dồi dào, ngòi bút phóng khoáng đã tạo ra cuộc trò chuyện tưởng tượng lý thú, hấp dẫn
– Thái độ sống “ngông” của tác giả tạo ra giọng điệu ngang tàng khác thường
– Có những cách tân mới khi thể hiện cái “tôi”- khác với thơ Đường cổ điển.
Luyện tập
Trả lời câu 1 (trang 157 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):
Nhận xét phép đối trong hai câu 3-4 và 5-6 của bài thơ.
Trả lời:
– Luật thơ Đường, các cặp câu 3- 4 và 5- 6 bắt buộc phải đối nhau. Trong bài câu 3- 4 đối nhau
+ Về hình ảnh: cung quế- cành đa
+ Về hành động: ngồi- nhắc
+ Đối về ý tứ: thăm dò-đề nghị
Câu 5- 6 đối về ý: bầu bạn- gió mây, tủi- vui
Phép đối trong 4 câu thơ trên nhẹ nhàng, ý vị, làm nổi bật được ước muốn được thoát khỏi những điều tầm thường nhàm chán của thế tục đang diễn ra.
Trả lời câu 2 (trang 157 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):
So sánh ngôn ngữ và giọng điệu bài thơ này với bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan.
Trả lời:
– Bài Qua Đèo Ngang của bà Huyện Thanh Quan:
+ Ngôn ngữ: sử dụng nhiều từ láy, từ tượng hình và lối chơi chữ từ đồng âm
+ Giọng điệu: trầm buồn, trang nhã tạo nét buồn bâng khuâng
– Bài thơ Muốn làm thằng Cuội của Tản Đà
+ Ngôn ngữ: bình dị, gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày.
+ Giọng điệu: nhẹ nhàng, trữ tình, pha chút hóm hỉnh, ngông nghênh
Soạn văn: Muốn làm thằng Cuội (hay nhất)
Đề bài học sinh xem bên trên.
Lời giải
ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
Thể loại
Thất ngôn bát cú Đường luật
Bố cục
+ Hai câu đề: cuộc sống trần gian nhàm chán, buồn tẻ
+ Hai câu thực: Cõi mộng tưởng của tác giả
+ Hai câu luận: Ước mơ thoát li khỏi thực tại
+ Hai câu kết: Viễn cảnh cuộc sống hạnh phúc
Câu 1 (trang 156 sgk Ngữ Văn 8 tập 1)
Tiếng than và lời tâm sự của Tản Đà với chị Hằng do tâm trạng chán trần thế;
+ Sống trong xã hội thực dân phong kiến tàn tác, bất nhân
+ Mang nỗi nhục mất nước, nỗi buồn vì bản thân rơi vào cảnh long đong, lận đận, bế tắc
+ Tản Đà vốn phóng túng, lãng mạn không bằng lòng với cuộc sống tù túng đó.
+ Bản thân ông không đủ sức thay đổi thực tại bi kịch.
=> Lời giãi bày của người lạc lõng trước thời cuộc, luôn bất hòa với thực tại nhàm chán.
Câu 2 ( trang 156 sgk Ngữ Văn 8 tập 1)
– Từ “ngông” được hiểu:
+ Những việc làm lớn, vượt trội hơn so với người bình thường
+ Chơi trội, dám làm trái lẽ thường, không sợ bị chê cười, thái độ phóng khoáng, coi thường khuôn phép.
– Cái “ngông” của Tản Đà trong ước muốn được làm thằng Cuội:
+ Muốn thoát khỏi trần buồn chán, xấu xa để lên cõi mộng
+ Xưng hô suồng sã với chị Hằng, muốn được chị coi là bạn
+ Cách lên trời, lên trăng bộc lộ chất “ngông”: muốn chị Hằng ghì cành đa xuống.
+ Câu 3 là sự ướm hỏi thì câu 4 Tản Đà tự tin về bản thân, khi lên cung quế sẽ làm cho chị Hằng bớt lẻ loi, buồn tủi.
=> Tản Đà một hồn thơ “ngông” giữa cái tỉnh và cái điên, giữa cõi thực và cõi mơ thể hiện cá tính, thái độ sống của ông trước cuộc đời đầy bất công, ô trọc. Phía sau cái “ngông” của ông là nhân cách hơn người.
Câu 3 ( trang 156 sgk Ngữ văn 8 tập 1)
– Câu thơ cuối bài là sự kết hợp hoàn hảo giữa cái “ngông” và lãng mạn của Tản Đà. Câu thơ phản ánh khao khát thoát tục để giữ thiên lương.
– Cái “cười” ở đây của Tản Đà được mang nhiều ý nghĩa
+ Cười thể hiện niềm vui được thỏa mãn mơ ước lên cõi mộng tưởng
+ Cười vì nhà thơ thấy thế gian ông từ bỏ vẫn là trần tục tầm thường, buồn chán
+ Cười thể hiện sự mỉa mai, giễu cợt khi Tản Đà ở vị trí cao hơn cõi trần ông đang sống.
Câu 4 ( trang 156 sgk Ngữ Văn 8 tập 1)
– Yếu tố tạo nên sức hấp dẫn của bài thơ nằm ở:
+ Trí tưởng tượng sáng tạo, bay bổng của nhà thơ
+ Cảm xúc dồi dào, ngòi bút phóng khoáng đã tạo ra cuộc trò chuyện tưởng tượng lý thú, hấp dẫn
+ Thái độ sống “ngông” của tác giả tạo ra giọng điệu ngang tàng khác thường
+ Có những cách tân mới khi thể hiện cái “tôi”- khác với thơ Đường cổ điển.
Luyện tập
Bài 1 (trang 157sgk Ngữ Văn 8 tập 1)
– Luật thơ Đường, các cặp câu 3- 4 và 5- 6 bắt buộc phải đối nhau. Trong bài câu 3- 4 đối nhau
+ Về hình ảnh: cung quế- cành đa
+ Về hành động: ngồi- nhắc
+ Đối về ý tứ: thăm dò-đề nghị
Câu 5- 6 đối về ý: bầu bạn- gió mây, tủi- vui
Phép đối trong 4 câu thơ trên nhẹ nhàng, ý vị, làm nổi bật được ước muốn được thoát khỏi những điều tầm thường nhàm chán của thế tục đang diễn ra.
Bài 2 (trang 157 sgk Ngữ Văn 8 tập 1)
-Bài Qua Đèo Ngang của bà Huyện Thanh Quan:
+ Ngôn ngữ: sử dụng nhiều từ láy, từ tượng hình và lối chơi chữ từ đồng âm
+ Giọng điệu: trầm buồn, trang nhã tạo nét buồn bâng khuâng
– Bài thơ Muốn làm thằng Cuội của Tản Đà
+ Ngôn ngữ: bình dị, gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày.
+ Giọng điệu: nhẹ nhàng, trữ tình, pha chút hóm hỉnh, ngông nghênh